Phó Chúc Để Tế Độ Cho Nhân Thiên

Thứ tư - 04/07/2018 22:14
kinh bản nguyện bồ tát địa tạng
kinh bản nguyện bồ tát địa tạng
Kinh bản nguyện của bồ tát địa tạng - Hội tập : Sa môn Thích Đạo Thịnh ( Giáo hội phật giáo việt nam )
Quyển hạ - Phẩm thứ mười ba
Phó Chúc Để Tế Độ Cho Nhân Thiên

Lúc bấy giờ, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni giơ cánh tay sắc vàng, xoa đỉnh đầu Địa Tạng, khen ngợi mà bảo rằng : " Này Địa Tạng Bồ Tát! Địa Tạng Bồ Tát ơi! Sức uy thần của Ông, không thể nghĩ bàn hết; Trí tuệ của Ông nay, cũng không nghĩ bàn hết; Biện tài của Ông nay, cũng không nghĩ bàn hết. Mười phương các Như Lai, cùng tán dương khen ngợi, những việc làm của Ông, chẳng thể nghĩ bàn được, dù trải muôn ức kiếp, cũng không diễn tả hết. Này Địa Tạng Bồ Tát, Ông nên nhớ ngày nay, Như Lai ở nơi đây, giữa cung Trời Đao Lợi, cùng trăm nghìn vạn ức, hằng hà sa Chư Phật, chúng Thiên, Long, Quỷ thần, cùng với tám bộ chúng, đem tất cả chúng sinh, chìm đắm trong sáu đường, để phó chúc cho Ông, Ông đừng lãng quên họ, đừng để họ sa đọa, lâu dài trong đường ác.
Lại nữa này Địa Tạng, chúng sinh ở cõi này, trí tính thường chẳng định, quen làm các việc ác, sợ làm các việc thiện, hoặc phát chút tâm lành, phút chốc lại thoái ngay, nếu gặp các duyên ác, liền tăng lên gấp bội. Vì thế nên Như Lai, thường dùng chước phương tiện, phân thân ra muôn nghìn, vô số các hóa thân, tùy căn tính chúng sinh, mong muốn mà hóa độ, khiến tất cả đều được, an vui trong chính đạo, lìa ác duyên, tu tâm, tiến thẳng lên bờ giác.
Lại nữa này Địa Tạng, hôm nay Đức Như Lai ân cần đem chúng Trời Người giao phó cho Ông, ở đời sau này nếu có thiện nam tử, hay thiện nữ nhân nào, nhẫn đến Trời, Rồng, Quỷ, Thần cùng tám bộ chúng, ở trong đời mạt pháp, gieo được chút thiện căn, dù nhỏ như sợi tơ, hạt cát cùng mảy bụi... thì Ông nên dùng sức, uy thần lớn của Ông, để thủ hộ người đó, đừng để họ thoái chuyển.
Lại nữa này Địa Tạng, ở về đời sau này nếu có chúng Trời Người, tùy theo nghiệp báo ứng, mà có sự đau khổ, khi người đó vừa chết, thần thức vào đường ác, cảnh khổ vừa hiện ra, liền sinh tâm lo sợ, rồi dốc lòng thành kính, trì niệm danh hiệu Phật, hoặc danh hiệu bất kì, của vị Bồ Tát nào, hoặc một câu, một kệ, trong Kinh điển Đại Thừa, thì Địa Tạng ông nên dùng sức thần thông lớn, hiện muôn nghìn hóa thân, mà đứng trước người đó, phá tan địa ngục khổ, để giúp họ thoát ra, rồi dạy họ biết thêm, về nghiệp báo nhân quả, khiến cho họ bỏ ác, làm lành được phúc lớn, giúp cho họ được sinh, lên các cõi Trời Người, hưởng sự vui thù thắng, chẳng để đọa lạc nữa ".
Ngay lúc bấy giờ, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni liền nói bài kệ rằng :
Đời này và đời sau,
Nếu có chúng Trời, Người.
Làm ác đọa đường dữ,
Mà đã biết ăn năn.
Như Lai nay ân cần,
Phó chúc cho Địa Tạng.
Dùng sức đại thần thông,
Phá tan địa ngục khổ.
Cứu vớt chúng trầm luân,
Khiến sinh cõi Trời Người.
Hưởng phúc báo an vui,
Tâm thường cầu chính pháp.
Tinh tiến chẳng thoái lui,
Cho đến chứng Bồ Đề ".
Bấy giờ Địa Tạng Vương, đối trước Đức Như Lai,  cung kính và chắp tay, quỳ gối mà bạch Đức Phật rằng : " Kính lạy Đức Thế Tôn! Xin Thế Tôn đừng lo! Nếu về đời sau này, có thiện nam tín nữ, đối với trong Phật Pháp, có một niệm cung kính, con sẽ dùng phương tiện, hóa độ cho người đó, biết bỏ ác, làm lành, lánh dữ và hành thiện, một lòng cầu tiến lên, chẳng còn bị thoái chuyển, cho đến thành tựu đạo Vô Thượng Chính Đẳng Chính Giác ".
Ngay lúc bấy giờ, ở trong giữa pháp hội, có một vị Bồ Tát, hiệu ngài là Hư Không Tạng liền bạch với Đức Phật rằng : " Kính lạy Đức Thế Tôn, con từ khi tới đây, trên cung Trời Đao Lợi, giữa chúng pháp hội này, được nghe Đức Thế Tôn, tán thán và khen ngợi, sức uy thần công đức, của Bồ Tát Địa Tạng, bao trùm khắp mười phương, chẳng thể nghĩ nghì được. Nếu có thiện nam tử, và thiện nữ nhân nào, nhẫn đến chúng Trời, Rồng, cùng tám bộ Quỷ Thần, ở đời ác sau này, được nghe Kinh Địa Tạng, lại chiêm bái cúng dàng, hình tượng của Địa Tạng, thì chúng Thiên Nhân ấy, được nhiều phúc lợi chăng? Cúi xin Đức Thế Tôn, vì con cùng chúng hội, hiện diện ở nơi đây, và ở đời sau này, lược nói sơ qua cho, chúng con muốn được nghe ".
Ngay khi ấy, Đức Phật liền bảo với Bồ Tát Hư Không Tạng rằng : " Này ông Hư Không Tạng, nay ông hãy lắng nghe! Như Lai sẽ vì ông, và các chúng Trời Người, đời này và đời sau, mà nói rõ việc đó. Ở trong đời sau này, nếu có các chúng sinh, được thấy nghe Kinh này, cùng hình tượng Địa Tạng, rồi dùng các thứ quý như hương, hoa, đèn, nến; y phục cùng vật dụng, đồ ăn và thức uống... cung kính dâng lên trước, tôn tượng của Địa Tạng, rồi dốc hết lòng thành, mà đọc tụng Kinh này. Lại đem công đức ấy, hồi hướng cho tất cả, chúng sinh trong ba đường, sáu nẻo khắp mười phương, sớm thoát ly sinh tử, và sớm chứng Niết Bàn.
Lại nữa Hư Không Tạng, nếu ở đời sau này, có thiện nam tín nữ, được nghe Kinh Bản Nguyện Công Đức Của Bồ Tát Địa Tạng, mà dốc lòng cung kính, tán thán và cúng dàng, lại đọc tụng thọ trì bộ Kinh Địa Tạng này, thì người ấy được hưởng, hai mươi tám điều lợi, Như Lai sẽ nói rõ, các ông hãy lắng nghe :

Một là được Thiên, Long,
Thường theo hộ vệ cho.
Hai là quả báo lành,
Ngày được một lớn thêm.
Ba chứa các nhân lành,
Của bậc Thánh Vô Thượng.
Bốn chẳng còn thoái chuyển,
Đạo Vô Thượng Bồ Đề.
Năm các thứ vật dụng,
Thường đầy đủ chẳng thiếu.
Sáu thân thể mạnh khỏe,
Không có bệnh tật chi.
Bảy xa lìa tai nạn,
Nước, Lửa cùng tật dịch.
Tám chẳng bị tai ách,
Giặc cướp cùng chiến tranh.
Chín người khác nhìn thấy,
Thường sinh lòng cung kính.
Mười được các Quỷ Thần,
Thường theo hộ vệ cho.
Mười một thân đàn bà,
Kiếp sau là đàn ông.
Mười hai thường là con,
Bậc Trưởng Giả, Đế Vương.
Mười ba thân tướng tốt,
Mọi phúc đều trang nghiêm.
Mười bốn thọ mệnh hết,
Thường thác sinh cõi Trời.
Mười lăm nếu làm người,
Thường làm bậc Đế Vương.
Mười sáu đủ thần thông,
Biết rõ các kiếp trước.
Mười bảy nếu cầu gì,
Thời thường được toại ý.
Mười tám quyến thuộc đông,
Hòa thuận và vui vẻ.
Mười chín thoát được hết,
Các tai nạn bất kì.
Hai mươi các nghiệp chướng,
Thảy đều được trừ hết.
Hai mốt đến chỗ nào,
Đều không bị chướng ngại.
Hai hai nếu chiêm bao,
Thường mộng thấy điềm lành.
Hai ba những người thân,
Chết rồi đều thoát khổ.
Hai bốn nhờ phúc xưa,
Được sinh nơi sung sướng.
Hai lăm được bậc Thánh,
Khắp mười phương khen ngợi.
Hai sáu được các căn,
Thông minh và linh lợi.
Hai bảy lòng từ bi,
Thường bao trùm rộng khắp.
Hai tám ở đời sau,
Quyết định sẽ thành Phật.
Lại nữa này Hư Không Tạng Bồ Tát, nếu ở đời sau này, có thiện nam tín nữ, nhẫn đến hàng Trời, Rồng, Quỷ, Thần, tám bộ chúng... hiện tại và vị lai, nếu có ai nghe được, danh hiệu Địa Tạng Vương, mà cung kính cúng dàng, lại được nghe bản nguyện, sâu dày của Địa Tạng, mà phát tâm tinh tiến, siêng cầu Vô Thượng Đạo, thì người đó đời sau, dù sinh ở chốn nào, được vô lượng công đức, và bảy lợi ích như :
Một là mau chứng được,
Quả vị của bậc Thánh.
Hai là mọi ác nghiệp,
Thảy đều tiêu trừ hết.
Ba là được Chư Phật,
Thường đến thủ hộ cho.
Bốn là chẳng thoái chuyển,
Thẳng đến đạo Bồ Đề.
Năm là bản lực tăng,
Tâm nguyện thường kiên cố.
Sáu được các thần thông,
Biết rõ mọi sự việc.
Bảy là sẽ viên mãn,
Rốt ráo được thành Phật.
Khi Đức Thế Tôn vừa nói xong đến đó, trong chúng hội bấy giờ, có vô lượng Chư Phật, các chúng Đại Bồ Tát, chư Thiên, Long, Bát Bộ... nghe Đức Phật Thích Ca Mâu Ni Như Lai, khen ngợi về công đức của Bồ Tát Địa Tạng, từ xưa đến nay thật hiếm chưa từng có. Bấy giờ từ trên trời, có mưa hoa báu xuống, lại có thiên y, thiên hương, thiên nhạc... để cúng dàng. Khi cúng Phật, Bồ Tát Địa Tạng và chúng hội xong rồi, hết thảy đại chúng đều được hoan hỉ lợi lạc, chắp tay cung kính đỉnh lễ Đức Phật mà từ từ thoái lui ".


KINH BẢN NGUYỆN CỦA BỒ TÁT ĐỊA TẠNG
HẾT QUYỂN HẠ


Cứ theo Kinh Bản Thệ,
Của Bồ Tát Địa Tạng.
Xem xét các nghiệp nhân,

Đui, mùi, điếc, ngọng, câm...
Đều kiếp trước gây nên,
Nay dốc lòng sám hối.
Cung kính lễ Địa Tạng,
Đọc tụng Đại Thừa Kinh.
Được công đức vô biên,
Thật chẳng thể nghĩ bàn.
Nguyện đem công đức ấy,
Cầu sinh về Tịnh Độ.
Diệt hết mọi nỗi khổ,
Quyết định sẽ thành Phật.
- Nam Mô Thường Trụ Thập Phương Tăng.    ( 3 lần )
- Nam Mô Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát Ma Ha Tát.     ( 3 lần )


BẠT NHẤT THIẾT NGHIỆP CHƯỚNG CĂN BẢN ĐẮC SINH TỊNH ĐỘ ĐÀ LA NI

Nẵng mồ a mi đá bà dạ, đá tha già đá dạ, đá địa dạ tha, a mi lị đô bà tỳ, a mi lị đá tất đam bà tỳ, a mi lị đá tỳ ca lan đế, a mi lị đá tỳ ca lan đá, gia di nhị, già già na, chỉ đá ca lệ, sa bà ha.         ( 3 lần )

Hội lớn chốn liên trì
Đức Di-Đà Như-Lai
Và Quán-Âm, Thế-Chí
Cùng ngự tọa sen đài
Tòa vàng trên tiếp dẫn
Thệ độ khắp muôn loài

Giũ sạch kiếp trần ai.
- Nam-Mô Liên-Trì Hội-Thượng Phật Bồ Tát Ma-Ha-Tát.     ( 3 lần )


TÂM KINH BÁT NHÃ BA-LA-MẬT-ĐA

Khi ngài Quán-Tự-Tại Bồ Tát, thực hành sâu xa pháp Bát-nhã Ba-la-mật-đa. Ngài soi thấy năm uẩn đều không, liền độ thoát hết thảy khổ ách.
Này ông Xá-Lợi-Tử! Sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc, sắc tức là không, không tức là Sắc, Thụ, Tưởng, Hành, Thức cũng đều như thế.
Này ông Xá-Lợi-Tử! Tướng không của mọi pháp, không sinh, không diệt, không nhơ, không sạch, không thêm, không bớt; cho nên trong chân-không, không có Sắc, không có Thụ, Tưởng, Hành, Thức; không có Mắt, Tai, Mũi, Lưỡi, Thân, Ý; không có Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc, Pháp; không có nhãn-giới, cho đến không có ý-thức giới; không có vô-minh, cũng không có cái hết vô-minh; cho đến già, chết; không có Khổ, Tập, Diệt, Đạo, không có trí-tuệ, cũng không có chứng đắc, vì không có chỗ chứng đắc.
Bồ-Tát y theo Bát-nhã-Ba-la-mật-đa, nên tâm không ngăn ngại, vì không ngăn ngại, nên không sợ hãi, xa hẳn mộng tưởng điên đảo, đạt tới Cứu-kính Niết-bàn. Chư Phật trong ba đời cũng y vào Bát-nhã Ba-la-mật-đa mà được đạo Vô-thượng Chính-đẳng Chính-giác. Cho nên biết Bát-nhã Ba-la-mật-đa là đại thần chú, là đại minh chú, là vô thượng chú, là vô đẳng đẳng chú, trừ được hết thảy khổ; chân thực không hư.
Vì vậy nói ra bài chú Bát-nhã Ba-la-mật-đa, liền nói bài chú rằng : " Yết-đế, Yết-đế, Ba-la Yết-đế, Ba-la tăng Yết đế, Bồ-Đề tát-bà-ha, ma-ha Bát-Nhã-Ba-La-Mật-Đa ".       (đọc chú 3 lần )

VĂN TỤNG KINH HỒI HƯỚNG

Đệ tử chúng con... vì sức nghiệp ma, tâm thần rối loạn, căn tính mê mờ, bỗng nhiên chợt nghĩ, thay đổi lung tung, dáo dở chất chồng, xem văn mờ ý, nhầm chữ sai câu, trái với chính âm trong, đục, nệ vào tà kiến giãi bày, hoặc vì việc đoạt mất trí, tâm chẳng để vào kinh, đương khi tụng niệm dậy, ngồi bỏ dở câu cách quãng, ngồi lâu trễ nải, nhân đó giận hờn, chốn nghiêm tịnh để vướng bụi nhơ, nơi kính-cẩn hoặc làm cẩu thả. Thân, khẩu mặc dùng nhếch nhác, xiêm y lễ mạo lôi thôi, cung chẳng như nghi, để không đúng chỗ. Mở cuốn rối ren, rớt rơi, dơ nát. Hết thảy chẳng chuyên chẳng thành, thật là đáng thẹn đáng sợ. Kính xin chư Phật, Bồ Tát, trong cõi pháp-giới, hư không giới, hết thảy Hiền-thánh, Thiện Thần, Thiên Long, Bát Bộ, Hộ pháp... từ bi thương xót, sám rửa lỗi lầm, khiến cho công đức tụng kinh, đều được chu viên thành tựu. Đệ tử chúng con nguyện tâm hồi-hướng còn e, hoặc khi dịch nhuận lỗi lầm, hoặc lúc giải chua thiếu sót, truyền thụ sai thù, âm thích lẫn lộn. Những lỗi cắt, in viết chép. Dù thầy dù thợ đều xin-sám-hối. Nhờ sức thần của chư Phật, khiến cho tội lỗi tiêu tan.
Thường quay xe pháp, cứu vớt hàm-linh. Nguyện đem công đức, trì chú tụng kinh, hồi hướng về Hộ-Pháp long thiên thánh chúng. Thần núi sông linh thiêng trong tam giới, vị chủ tể thủ-hộ chốn già lam, cầu mong được hưởng phúc thiện bình-an, trang nghiêm đạo quả, vô thượng Bồ-Đề, nguyện cho khắp cả pháp-giới chúng sinh, cùng được vào biển " Như Lai Pháp Tính ".

(Tụng đến đây thì sang mõ tụng bài tán Phật...)

Phật Di Đà mình vàng rực rỡ,
Tướng tốt thay trong sáng khôn bì,
Mi trắng tỏa Tu Di năm núi,
Mắt như bốn biển lớn trong xanh,
Hào quang hóa Phật vô số ức,
Hóa Bồ Tát cũng thật vô biên,
Bốn mươi tám nguyện độ chúng sinh
Chín phẩm hàm linh đăng bỉ ngạn.
- Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi A-Di-Đà-Phật.    ( 3 lần )
- Nam Mô A Di Đà Phật.     ( Niệm 1,3 tràng tùy ý )
- Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát.    ( Niệm 10 lần )
- Nam Mô Đại Thế Chí Bồ Tát.     ( Niệm 10 lần )
- Nam Mô Địa Tạng Vương Bồ Tát.     ( Niệm 10 lần )
- Nam Mô Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát.    ( Niệm 10 lần )


LỄ TỔNG

1. Nam mô tận hư không biến pháp giới Thập phương Tam thế nhất thiết thường trụ Tam Bảo.      ( 3 lễ )
2. Nam mô Sa Bà Giáo chủ Bản sư Thích Ca Mâu Ni Phật.       ( 1 lễ )
3. Nam mô Phạm võng Giáo chủ Lư Xá Na Phật.      ( 1 lễ )
4. Nam mô Tây Phương Cực Lạc Giáo chủ A Di-Đà Phật.     ( 1 lễ )
5. Nam mô Thượng phương Chúng hương thanh tịnh thế giới Giáo chủ Hương Tích Phật.      ( 1 lễ )
6. Nam mô Đông Phương Giáo chủ Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật.    ( 1 lễ )
7. Nam mô Đương lai Giáo chủ Di Lặc Tôn Phật.     ( 1 lễ )
8. Nhất tâm đỉnh lễ Quán Thế Âm Bồ Tát biến pháp giới chư đại Bồ Tát.    ( 1 lễ )
9. Nhất tâm đỉnh lễ Đại Thế Chí Bồ Tát biến pháp giới chư đại Bồ Tát.    ( 1 lễ )
10. Nhất tâm đỉnh lễ Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát biến pháp giới chư đại Bồ Tát.     ( 1 lễ )
11. Nhất tâm đỉnh lễ Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát biến pháp giới chư đại Bồ Tát.    ( 1 lễ )
12. Nhất tâm đỉnh lễ Nhật Quang Biến Chiếu Bồ Tát biến pháp giới chư đại Bồ Tát.     ( 1 lễ )
13. Nhất tâm đỉnh lễ Nguyệt Quang Biến Chiếu Bồ Tát biến pháp giới chư đại Bồ Tát.     ( 1 lễ )
14. Nhất tâm đỉnh lễ Bản Tôn Địa Tạng Vương Bồ Tát biến pháp giới chư đại Bồ Tát.     ( 1 lễ )
15. Nhất tâm đỉnh lễ Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát biến pháp giới chư Hiền Thánh Tăng.     ( 1 lễ )
16. Nhất tâm đỉnh lễ Lịch Đại Tổ sư Bồ Tát.     ( 1 lễ )
17. Nhất tâm đỉnh lễ Hộ Pháp Chư Thiên Bồ Tát.    ( 1 lễ )
18. Nhất tâm đỉnh lễ Tam châu Cảm ứng Hộ pháp Vi Đà Tôn Thiên Bồ Tát.    ( 1 lễ )
19. Thiên địa phú tái chi ân, nhật nguyệt chiếu lâm chi đức, đại vị đỉnh lễ A Di Đà Phật.     ( 1 lễ )
20. Quốc gia xã hội chi ân, thủy thổ thuần dụng chi đức, đại vị đỉnh lễ A Di Đà Phật.     ( 1 lễ )
21. Sư trưởng giáo huấn chi ân, Phụ mẫu sinh thành chi đức, đại vị đỉnh lễ A Di Đà Phật.      ( 1 lễ )
22. Thập phương tín thí chi ân, tứ sự cúng dàng chi đức, đại vị đỉnh lễ A Di Đà Phật.    ( 1 lễ )
23. Ngã kim phả vị Tứ ân-Tam hữu pháp giới chúng sinh tất nguyện đoạn trừ tam chướng, chí thành phát nguyện :     ( 1 lễ )

( vào mõ tụng bài văn phát nguyện )

Cúi đầu hướng về nước Cực Lạc
Thầy dẫn đường tiếp bước chúng sinh
Con nay phát nguyện, nguyện vãng sinh
Xin đức Từ Bi thương tiếp độ.

Đệ tử chúng con... khắp vì bốn ân ba cõi, pháp giới chúng sinh, cầu nơi chư Phật, nhất thừa vô thượng, Bồ đề kiên cố, chuyên tâm trì niệm, A Di Đà Phật, vạn đức hồng danh, cầu sinh Tịnh Độ. Ngại vì phúc mỏng nghiệp dày, chướng sâu tuệ cạn, tâm nhiễm thói hư, đức sạch khó thành, nay đối trước Phật, năm thể chuyên cần, dốc một lòng thành, cầu xin sám hối. Con và chúng sinh, bao kiếp đến nay, quên mất bản tâm, cùng Tham-Sân-Si, ba nghiệp tạo tác, vô lượng vô biên; chỗ làm tội ác, vô lượng vô biên, chỗ kết oan nghiệp, vô lượng vô biên, nguyện tất tiêu diệt, từ nay về sau, lập thệ nguyện sâu, mãi xa pháp ác, thề không tái phạm. Chuyên tu thánh đạo, thề không thoái chuyển, thệ thành Chính Giác, thề độ chúng sinh. Đức Phật A Di Đà, dùng từ bi nguyện lực, xin biết cho con, xin thương xót con, xin gia hộ con; Nguyện con trong khi thiền quán, hay lúc ngủ mơ, thường được thấy Đức Phật A Di Đà, được Đức Phật A Di Đà rước về cõi tịnh, được Đức Phật A Di Đà dùng nước cam lộ làm phép quán đỉnh, phóng ánh hào quang, chiếu khắp thân con, lấy tay xoa đầu, lấy áo trùm thân, khiến các nghiệp chướng của con từ trước đến nay, thảy đều tiêu diệt, thiện căn tăng trưởng, phiền não tan không, vô minh dứt sạch, viên giác diệu tâm, tự nhiên khai ngộ, chân cảnh tịch quang, thường được hiện tiền, tới khi sắp sửa lâm chung, dự biết trước được, thân không một chút bệnh khổ ách nạn, tâm không một chút tham luyến mê hoặc, các căn sáng sủa, chính niệm phân minh, xả bỏ báo thân, an nhiên tự tại, như nhập thiền định. Đức Phật A Di Đà và đức Quán Âm, đức Đại Thế Chí cùng chư Thánh Hiền, phóng quang tiếp dẫn, đưa tay đón về, lâu các tràng phan, hương lạ nhạc trời, cảnh thánh Tây Phương, hiện ra trước mắt, khiến cho chúng sinh, thấy và nghe thế, vui vẻ cảm thán, phát Bồ Đề tâm. Con lúc bấy giờ, ngồi tòa kim cương, tùy tòng sau Phật, chỉ trong khoảnh khắc, sinh về Cực Lạc, nơi Ao Thất Bảo, từ trong hoa Sen, hoa nở thấy Phật, thấy chư Bồ Tát, nghe pháp vi diệu, được Vô sinh nhẫn, ngay trong khi ấy, thừa sự chư Phật, thân được thụ ký, được thụ ký rồi, ba thân bốn trí, ngũ nhãn lục thông, vô lượng trăm nghìn, môn Đà La Ni, tất cả công đức, thảy đều thành tựu. Song chẳng vì nghỉ ngơi an dưỡng, mà trở lại cõi Sa Bà, phân thân vô số, biến khắp mười phương, lấy bất khả tư nghì, thần lực tự tại, các pháp phương tiện, độ thoát chúng sinh, hàm linh li nhiễm, lại được tịnh tâm, đồng sinh Tây Phương, vào Bất Thoái Địa, đại nguyện như thế, thế giới vô tận, chúng sinh vô tận, nghiệp và phiền não, hết thảy vô tận, con nguyện vô tận, nguyện nay lễ Phật, phát nguyện tu trì công đức, hồi thí hữu tình, bốn ân tổng báo, ba cõi giúp đều, pháp giới chúng sinh, đồng thành chủng trí.

TAM TỰ QUY

Con quy Phật rồi, nguyện cho chúng sinh thấu hiểu đạo lớn, phát tâm vô thượng.   ( 1 lễ )
Con quy Pháp rồi, nguyện cho chúng sinh thông thuộc Kinh tạng, trí tuệ như hải.      ( 1 lễ )
Con quy Tăng rồi, nguyện cho chúng sinh hòa hợp đại chúng, hết thảy không ngại.     ( 1 lễ )


LẠY CHƯ THÁNH HIỀN

Nguyện đem công đức này
Hướng về khắp tất cả
Đệ tử và chúng sinh
Đều trọn thành Phật đạo.




 

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá

Xếp hạng: 5 - 1 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Mã bảo mật   
Thăm dò ý kiến

Bạn quan tâm gì nhất ở mã nguồn mở?

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây